Đức Phật dạy "Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi", vậy vì sao Ấn Quang Đại Sư lại khuyên nương vào kinh điển và niệm Phật?
Học thi kệ toát yếu - Ấn Quang Đại Sư
Nhiều người cho rằng Đức Phật dạy: “Hãy tự mình là hòn đảo của chính mình, hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi, đừng nương tựa vào ai.” Vì vậy, họ kết luận rằng không cần kinh điển, không cần minh sư, không cần niệm Phật hay cầu gia trì. Theo họ, chỉ cần quay vào bên trong là đủ.
Thoạt nghe, điều đó có vẻ rất hợp lý. Nhưng nếu đọc toàn bộ lời Phật dạy và đối chiếu với những gì Ấn Quang Đại Sư viết trong “Luận về Ngộ Chứng” và “Luận về Tông, Giáo”, chúng ta sẽ thấy ý nghĩa sâu xa không phải như vậy.
Đức Phật nói “hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi” không có nghĩa là phủ nhận Tam bảo, phủ nhận kinh điển hay phủ nhận sự hướng dẫn của thiện tri thức. Điều Ngài phủ nhận là tâm ỷ lại. Không ai có thể tu thay bạn. Không ai có thể giác ngộ thay bạn. Không ai có thể gánh nghiệp thay bạn. Dù Đức Phật có xuất hiện trước mặt, Ngài cũng chỉ có thể chỉ đường. Người bước đi vẫn là chính chúng ta.
Đó chính là tinh thần tự lực. Nhưng tự lực không có nghĩa là từ chối mọi sự trợ giúp.
Một đứa trẻ học đi phải tự bước bằng đôi chân của mình, nhưng vẫn cần cha mẹ nắm tay. Một sinh viên phải tự học, nhưng vẫn cần thầy hướng dẫn. Một người leo núi phải tự bước từng bước, nhưng vẫn cần bản đồ và người dẫn đường nếu chưa biết đường đi.
Kinh điển cũng như vậy. Kinh không tu thay chúng ta. Minh sư không giác ngộ thay chúng ta. Phật cũng không sống thay chúng ta. Nhưng các Ngài giúp chúng ta đi đúng hướng.
Ấn Quang Đại Sư nhìn rất rõ căn cơ của con người thời mạt pháp. Ngài thấy rằng đa số chúng ta phiền não nhiều, định lực yếu, trí tuệ chưa đủ sâu để tự mình phân biệt chánh tà. Chính vì vậy, nếu chỉ dựa vào cảm nhận của bản thân mà bỏ kinh điển, bỏ thiện tri thức, rất dễ nhầm tưởng vọng tưởng là giác ngộ, cảm xúc là trí tuệ, hoặc tà kiến là chánh kiến. Đó là lý do ngài luôn nhấn mạnh phải lấy kinh điển làm tiêu chuẩn để soi chiếu việc tu học.
Điều tương tự cũng đúng với pháp môn niệm Phật. Nhiều người hiểu lầm rằng niệm Phật là cầu xin Phật làm thay mình. Thực ra, trong tư tưởng của Tịnh độ tông, tha lực chỉ phát huy khi có tự lực. Nếu một người không giữ giới, không sửa tâm, không có tín tâm, không phát nguyện và không thực hành, thì chỉ đọc danh hiệu Phật bằng miệng không phải là điều mà các vị Tổ mô tả là con đường giải thoát.
Có thể hiểu đơn giản như thế này: tự lực là người chèo thuyền, tha lực là gió. Nếu không chèo, chỉ mong có gió thì con thuyền không đến nơi. Nhưng nếu chỉ chèo mà gặp dòng nước ngược rất mạnh, có thêm sức gió thuận thì sẽ đi nhanh và vững hơn. Tịnh độ tông không phủ nhận tự lực, mà cho rằng đối với phần đông chúng sinh thời mạt pháp, chỉ dựa vào tự lực để đoạn sạch phiền não trong một đời là điều vô cùng khó. Vì vậy, mới cần thêm tha lực từ đại nguyện của Phật A Di Đà để hỗ trợ.
Thực ra, giữa lời Đức Phật và lời Ấn Quang Đại Sư không hề có mâu thuẫn. Đức Phật nhấn mạnh rằng đừng sống trong sự ỷ lại, còn Ấn Quang Đại Sư nhấn mạnh rằng đừng kiêu mạn nghĩ mình đủ sức đi một mình.
Một bên chữa bệnh lười biếng. Một bên chữa bệnh ngã mạn.
Cả hai đều gặp nhau ở một điểm: người tu phải tự chịu trách nhiệm về con đường của mình. Nhưng để đi đúng đường, chúng ta cần nương vào Tam bảo, nương vào chánh pháp, nương vào kinh điển, nương vào thiện tri thức và nếu chọn pháp môn Tịnh độ thì nương thêm đại nguyện của Phật A Di Đà. Sự “nương” ấy không phải là phó mặc, mà là sử dụng đúng những điều kiện thuận lợi để chính mình tinh tấn tu tập.
Có lẽ vì vậy mà có thể diễn đạt tinh thần của hai lời dạy bằng một câu: Đức Phật bảo chúng ta phải tự bước đi bằng đôi chân của mình; Ấn Quang Đại Sư nhắc chúng ta đừng từ chối cây gậy, tấm bản đồ và người dẫn đường khi con đường phía trước còn quá dài và chính mình chưa đủ sức nhìn thấy hết.
Chia sẻ từ Admin Thu Hồng (Học thi kệ toát yếu - Ấn Quang Đại Sư).


