Trà đàm: THI KỆ TOÁT YẾU
Chương 4: *Luận về sanh tử đại sự*
Phần 3: *Khuyên nên giữ tâm cung kính*
Nam mô A Di Đà Phật!
Trong Thi Kệ Toát Yếu của Ấn Quang Đại sư, sau khi khuyên người tu phải chuyên một lòng nương tựa vào Phật lực để vượt thoát biển khổ sanh tử, người tiếp tục chỉ ra một yếu tố nền tảng quyết định sự thành tựu của người học Phật, đó chính là tâm cung kính.
Theo Pháp sư Tịnh Không, tâm cung kính là có thể cung kính với cha mẹ, cung kính với Phật, Bồ Tát, là có thể cung kính với tất cả chúng sanh, cung kính bình đẳng với tất cả , không cung kính là không cung kính với Phật, không cung kính đối với cha mẹ, một là tất cả, tất cả là một, đây là thật, không phải giả, trong Phật Pháp đại thừa không có giai cấp, không có phân biệt, đó là nhất thể.
1. Vì sao Ấn Quang Đại Sư xem tâm cung kính là nền tảng quan trọng nhất trong việc tu học?
Thứ nhất, theo Đại sư, dù theo pháp môn nào cũng cần phải thành và cung kính. Dù cho tất cả Chư Phật nhiều đời vị lai đều xuất thế cả cũng đều phải như thế, không thể không được. Chúng ta lại là phàm phu sát đất, muốn tiêu nghiệp chướng, mau chứng vô sanh ví như cây không rễ muốn xanh tốt? Chim muốn bay mà không cánh, có được hay không?
“Pháp chư Phật tuy là pháp bất định
Nhưng gốc nền cung kính tấc lòng thành
Ví như cành không bén rễ, há tươi xanh”
Hình ảnh “cành không bén rễ” cho thấy hình thức tu hành có thể rất đẹp, hiểu biết có thể rất nhiều, nhưng nếu không có lòng thành kính thì không thể có sức sống đạo tâm.
Thứ hai, từ những lời giảng của Đại sư, muốn hưởng lợi ích thực sự từ Phật Pháp phải cầu nơi cung kính, nếu có một phần cung kính sẽ tiêu được 1 phần tội nghiệp tăng 1 phần phước huệ, nếu có mười phần cung kính sẽ tiêu được mười phần tội nghiệp tăng mười phần phước huệ.
Ngay pháp niệm Phật giản dị, rất rộng, rất lớn nhưng phải khẩn thiết chí thành đến cùng cực mới mong được cảm ứng đạo giao, được lợi ích ngay trong đời này. Nếu lười nhác, biếng trễ, không mảy may kính nể dù gieo vĩ nhân vẫn mắc tội khinh nhờn, hậu quả không thể tưởng tượng nồi. Một dẫn chứng của Đại sư khi nói đến tâm thiếu cung kính khi người xì hơi trước tượng Phật, quả báo sẽ hóa thành loài giòi, phải đi ra ngoài hoặc nén lại.
Thứ ba, cung kính giúp nhiếp tâm, tâm không tạp loạn.
“Lòng cung kính không lơi là khi niệm Phật
Luôn luôn như vậy tức tâm không tạp loạn”
Khi có lòng cung kính, đó là do đã có chân tín, tín chân thành, người tu sẽ trở về giữ giới, không dám khinh suất, tâm sẽ bớt tán loạn. Từ đó việc niệm Phật, tụng kinh hay làm việc thiện mới đi sâu vào nội tâm.
Thứ tư, cung kính giúp người tu khiêm hạ, nhẫn nhục. Ngã mạn là chướng ngại lớn của người tu, cung kính, khiêm hạ thì mới tiếp thu được những lời dạy của Phật, người tu dễ phản tỉnh, sửa mình. Đại sư có đưa ra tấm gương của Minh Tuyết Kiều Tín thiền sư người không biết chữ, trung niên xuất gia, tận lực khổ công nghiêm cứu, nhẫn được những việc người khác không nhẫn được, làm được việc người khác chẳng thể làm, khổ hạnh của người người khác khó đạt được, lâu ngày đại triệt đại ngộ, miệng nói ra đều khéo léo khế hợp cùng thiền cơ, ngài liền biết chữ, lâu sau ngài còn tung hoành ngọn bút, nghiễm nhiên trở thành bậc đại thi pháp.
2. Trong quá trình tu học, biểu hiện của người có tâm cung kính và thiếu tâm cung kính
a. Biểu hiện của người thiếu tâm cung kính
Thứ nhất, chạy theo hình thức, thích việc đặc biệt để cầu danh. Đại sư phê bình việc chép kinh bằng máu khi tâm chưa thanh tịnh: “Tâm chưa an mà gây khổ cho thân. Chẳng khác gì trò bỡn cợt của trẻ con” hay “Tâm không thành vì chỉ muốn vang danh. Hoặc là khoe tài viết chữ thảo đẹp, nhanh”. Đây là biểu hiện lấy Phật pháp để nuôi lớn bản ngã.
Thứ hai, tụng kinh chỉ bằng miệng, không bằng tâm: “Lúc tụng kinh thì đọc nhanh như gió cuốn, tỏ ra người thành thạo chữ và lời”. Khinh suất với kinh tượng và giới luật: “Không nên để kinh bừa bãi lúc thuận tay”. Tự cho mình hiểu đạo, dùng lý luận để che đậy tâm buông lung: “Tâm đã an thì cần chi giới luật phân minh”. Đại sư cảnh tỉnh: “Không trì giới mà tâm an thì cũng lạ!”
Thùy có chia sẻ về bài học cung kính của một người họ hàng khi chuẩn bị giây phút lâm chung cho chính mình khi chấp hình thức bên ngoài mà chưa có tâm cung kính, chưa quán lại cái tâm của mình, mong cầu.
b. Biểu hiện của người có tâm cung kính
Thứ nhất, đối với Phật pháp bằng lòng chân thành tha thiết:“Phật danh thốt ra như con gọi cha hiền”. Người có tâm cung kính: niệm Phật chân thật, không phô diễn, không cầu hơn thua, không xen tạp danh lợi.
Thứ hai, tôn trọng kinh tượng như đối trước Phật: “Nên tưởng như là Phật mỗi khi đối tượng. Không nên nghĩ rằng là đất, gỗ, đồng, thau”. Người có cung kính hiểu rằng kinh là pháp thân của Phật, tượng Phật là nơi nhiếp tâm cung kính nên luôn giữ thái độ trân trọng và nghiêm túc.
Thứ ba, khiêm hạ, biết mình còn nghiệp chướng: “Nghiệp chưa tiêu, hãy lấy câu Phật hiệu làm đầu”. Người thật tu không tự cho mình chứng ngộ, mà luôn thấy mình còn phiền não, lấy niệm Phật làm chỗ quay về, lấy sửa tâm làm chính.
Cả Mai và Thùy đều nhắc mọi người về hình ảnh của thầy chùa Vân Tiêu về tâm cung kính với Tam Bảo, cung kính với chúng sanh.
Cô Thu Hồng nhấn mạnh trên con đường tu học, thực hành tâm cung kính thực sự rất khó. Phải thấy rõ, phải đủ lòng từ bi, phải có hạnh nhẫn nhục mới thực hành được tâm cung kính.
Cô nhắc thực hành tâm cung kính chính là sống hòa ái với mọi người, chính là ta đang chuẩn bị cho giây phút lâm chung để không bị ác oan gia trái chủ quấy nhiễu mà có khi chính họ lại trợ niệm cho ta. Niệm Phật, niệm chú để được sự gia trì của Chư Phật, chư Bồ Tát và chỉ có tâm cung kính mới khai thông được dòng nghiệp lực của chính ta.
Cô cũng hướng dẫn cần thực hành tâm cung kính thường xuyên với những sinh vật nhỏ bé, với những việc bất như ý, với những người thân của ta, với những người làm ta tổn thương. Phải luôn tự phản quang lại tâm cung kính của chính mình, ta đang thiếu tâm cung kính với ai? Phải đề ra những mục tiêu và rốt ráo thực hành. Phải nhớ, cung kính cao nhất là cung kính với chính mình, cung kính bằng việc thanh tịnh lời nói, ý nghĩ và hành động, đó cũng chính là giữ giới. Luôn luôn hướng về mình, nếu có thể cung kính, khiêm hạ, nhẫn nhục với bản thân thì không còn phân biệt trong ngoài. Tâm cung kính không phải lời nói mà phải là thực hành.
Chúng con xin nguyện cho chúng con và mọi người đều giữ tâm cung kính trên con đường về Tây Phương Cực Lạc. Nam mô A Di Đà Phật!
Chia sẻ từ Vũ Hương và chị Lưu Hiền - 108 Nhà An









